Tái thiết lập khuôn mẫu gia đình

Câu chuyện gia đình An – ?[Chuyện số 1- Nhà tớ!]?

Một đứa trẻ mang sự hiện diện của bao nhiêu người?

Có một sự thật không thể phủ nhận là một đứa trẻ khi được sinh ra phải có sự tồn tại của ít nhất một người nam và một người nữ gọi là bố và mẹ. Bố mẹ cũng từng là những đứa trẻ được sinh ra bởi hai cặp vợ chồng mà chúng gọi là ông – bà. Khi nhắc đến sự tồn tại của con người, không thể nào quên được 6 người còn lại, họ có những tác động lên các khía cạnh tâm lý, sinh lý và xã hội của người đó.

Một trong những yếu tố mà gia đình ảnh hưởng đến chúng ta nhiều nhất chính là khuôn mẫu gia đình. Theo Từ điển Tâm lý học của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, khuôn mẫu gia đình chỉ đặc điểm của mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chẳng hạn như mối quan hệ cha mẹ – con cái. Khuôn mẫu gia đình bao hàm cả những yếu tố như cung bậc cảm xúc hoặc thái độ của một thành viên trong gia đình đối với (các) thành viên còn lại. Một số gia đình rất ấm áp, số khác lạnh lẽo, một số dính chặt vào nhau, một số gia đình mà các thành viên luôn giữ với nhau một khoảng cách, một số cởi mở với bạn bè, người thân, một số không giao lưu, một số gia đình yêu thương và chấp nhận những đứa trẻ, số khác tránh xa thậm chí chối bỏ. Những khuôn mẫu này trong gia đình, hoặc một số yếu tố trong khuôn mẫu có thể được vận hành trong vô thức hoặc ý thức.

Không dừng lại ở một gia đình, khuôn mẫu này có tính truyền thừa qua các thế hệ, đứa trẻ học cách gia đình mình vận hành, và trong những cố gắng để tồn tại, đứa trẻ xem đó là một cách vận hành quen thuộc và ổn định để lớn lên, cho dù có lành mạnh hay không. Đến sau này, một người trưởng thành mang những khuôn mẫu được truyền thừa của gia đình mình đặt vào gia đình mới của bản thân bởi vì chúng được coi là an toàn. Có một điều kỳ lạ nữa là sự tái thiết lập khuôn mẫu này thường thành công bởi vì chúng ta có xu hướng chọn người bạn đời của mình với những đặc điểm giống với cha mẹ.

Vậy chúng ta đã chọn bạn đời và qua đó tái thiết lập khuôn mẫu gia đình như thế nào?

Robert A. Pollak (2004), trong nghiên cứu về bạo lực gia đình đã đề xuất và phân tích một mô hình gọi là “Mô hình đa thế hệ về bạo lực gia đình”, trong đó các cách thức hành xử và “kịch bản ứng xử” được truyền thừa từ ba mẹ sang con cái. Mô hình này đưa ra 3 giả định:

Xác suất người chồng trở nên bạo lực phụ thuộc vào việc liệu anh ta có được nuôi dưỡng và lớn lên trong một gia đình bạo hành hay không.

Xác suất người vợ ở lại với người chồng bạo hành phụ thuộc vào việc liệu cô ấy có được nuôi dưỡng và lớn lên trong gia đình bạo hành hay không.

Những cá nhân lớn lên trong gia đình bạo hành có xu hướng kết hôn với những cá nhân có hoàn cảnh tương tự.

Mô hình này còn nhấn mạnh các yếu tố như mức độ bạo hành, sự kết hợp của việc người bạo hành tiếp tục bạo hành và người bị bạo hành tiếp tục ở lại cũng góp phần lớn tăng tỷ lệ tái thiết lập hành vi bạo hành trong gia đình mới. Mặc dù tỷ lệ tái lập này không phải 100%, Pollak đã cho thấy có tồn tại xu hướng tái lập này đặc biệt khi có đầy đủ các yếu tố tạo điều kiện cho sự tái lập và bạo lực.

Wiszewska và cộng sự (2007) đã thực hiện một nghiên cứu liên quan đến việc phụ nữ liệu có đề cảm thấy thu hút hơn đối với những đặc điểm nét mặt giống với cha mình hay không, kết quả cho thấy những người phụ nữ có mối quan hệ tốt với cha mình lúc còn nhỏ thường bị thu hút nhiều hơn bởi những người có nét đặc điểm giống với cha mình. Vậy việc lựa chọn bạn đời không chỉ dựa trên những yếu tố xúc cảm hoặc trải nghiệm, một phần lựa chọn đó cũng phụ thuộc vào mối quan hệ trong quá khứ với người nuôi dưỡng.

Một nghiên cứu được công bố vào năm 2006 của Hynie và cộng sự đã cho thấy ảnh hưởng của hệ giá trị gia đình người Trung Quốc định cư lên cách một người chọn bạn đời, họ gọi đó là những giá trị được truyền thừa xuyên thế hệ. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, trong những gia đình được chọn làm mẫu, lựa chọn của cha mẹ và tính “bao đồng” của gia đình là yếu tố dự báo cho lựa chọn bạn đời của con trẻ. Đó là những điều cho thấy hệ giá trị, các đặc điểm văn hóa của gia đình, cụ thể là người nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến cách chúng ta lựa chọn gia đình mới của bản thân.

Vậy do đâu mà có những sự tái thiết lập này?

Có nhiều góc nhìn về việc tái thiết lập khuôn mẫu gia đình, ở đây, tớ sẽ cung cấp cho mọi người hai góc nhìn từ lý thuyết phân tâm – tâm động và góc nhìn xuyên thế hệ.

Phức cảm oedipus và một số góc nhìn tâm động.

Trong Phân tâm học, Sigmund Freud đã đề ra một khái niệm nổi tiếng gọi là phức cảm oedipus. Phức cảm này xuất hiện vào cuối thời kỳ dương vật biểu tượng trong lý thuyết về 5 giai đoạn phát triển tâm tính dục mà ông đề xuất vào đầu những năm 1900. Khi phức cảm này xuất hiện, đứa trẻ trải qua một quá trình lấy người nuôi dưỡng khác giới làm đối tượng yêu thương về mặt tính dục, người nuôi dưỡng đồng giới là kẻ thù. Dần dần, trẻ nhận ra được rằng chúng không có đủ sức mạnh để hạ gục kẻ thù kia, chúng chọn sang cách nội hóa những giá trị của kẻ thù đó và buông bỏ đối tượng yêu thương đầu đời rồi chuyển hướng sang những đối tượng khác giới khác ngoài xã hội. Do những tiếp xúc đầu đời, đứa trẻ mang trong mình những đặc điểm được nội hóa giống với người nuôi dưỡng đồng giới và hướng đến những người khác giới có đặc điểm giống với cha hoặc mẹ của mình. Nghe thì có vẻ đơn giản nhưng đây quả thực là giai đoạn mà trẻ cần phải vượt qua để chuyển sang một bước phát triển mới. Đặc biệt, con đường đi qua phức cảm oedipus đối với trẻ nữ là khó khăn và nhiều bước hơn so với trẻ nam.

Bên cạnh phân tâm học cổ điển, nhiều nghiên cứu trong tâm động học và phân tâm học hiện đại cũng chỉ ra những sự thừa hưởng các đặc điểm và xu hướng tái lập gia đình mới giống với gia đình cũ. Inge Bretherton đã dựa trên những khái niệm trong lý thuyết gắn bó của John Bowlby, cụ thể là mô hình hoạt động nội quan (internal working models), Bretherton (1990) đưa ra kết quả rằng, mô hình hoạt động này có thể được can thiệp sớm trong mối quan hệ giữa trẻ với người nuôi dưỡng, nếu không, sẽ có một hiệu ứng truyền lan đa thế hệ của mô hình này, cụ thể trẻ sẽ áp dụng nó lên mối quan hệ giữa mình với người khác và lặp lại với chính con cái của mình.

Một nghiên cứu khác được thực hiện trên mẫu là 308 cặp đôi vợ chồng và những người con trưởng thành của họ. Juni (1992) đã đưa ra một kết quả bất ngờ về sự tương tự trong việc sử dụng cơ chế phòng vệ giữa chồng – vợ, cha – con trai và mẹ – con gái, không thấy sự tương tự trong các cặp cha – con gái và mẹ – con trai. Đây có thể là kết quả của việc bắt chước theo mẫu và vai trò giới trong gia đình.

Tóm lại, trong lý thuyết phân tâm học cả cổ điển và hiện đại, rõ ràng ta không thể chối bỏ vai trò rất quan trọng từ sớm của người nuôi dưỡng. Các cách hành xử, kiểu gắn bó và cả hình mẫu của người nuôi dưỡng ảnh hưởng đến cách đứa trẻ lớn lên và lựa chọn gia đình mới của mình.

Sự truyền thừa xuyên thế hệ.

Có một điều kỳ lạ là những gia đình bạo hành cũng có sự ổn định và an toàn riêng đối với từng cá nhân trong đó. Kwong và cộng sự (2003) thực hiện một nghiên cứu để khám phá sự truyền thừa đa thế hệ của bạo hành trong các mẫu cộng đồng. Bằng cách khảo sát qua điện thoại với 1249 người trưởng thành trong thành phố Vancouver, những người được cho là đến từ những gia đình bạo hành ( cha mẹ là người bạo hành) và những gia đình có vấn đề lạm dụng thể xác, tinh thần trong mối quan hệ vợ chồng. Kết quả cho thấy, tất cả các kiểu bạo hành đều có thể được dùng như một dữ liệu dự báo cho các lạm dụng trong tương lai. Đây có thể là kết quả của việc trẻ đã học được cách giữ ổn định và kiểm soát gia đình của mình bằng bạo hành. Điều bất ngờ là có rất nhiều lý do được đưa ra để người bị bạo hành (thông thường là người vợ) ở lại với người bạo hành mình (thường là người chồng). Herbert và cộng sự vào năm 1991 đã đưa ra những kết luận rằng việc người phụ nữ ở lại với mối quan hệ bạo hành đó không phụ thuộc vào góc nhìn về mối quan hệ và tính nghiêm trọng của việc bạo hành mà do họ cảm thấy việc ở lại là ổn định và “an toàn”.

Điều gì chúng ta có được khi tái thiết lập khuôn mẫu gia đình?

Những tái thiết lập khuôn mẫu gia đình luôn mang lại nhiều điều tích cực và cả tiêu cực. Chúng giữ ổn định cho những gia đình mới, những giá trị cũ, cái mà đã được thử và áp dụng, luôn được cho là có hiệu quả trong việc giữ một hệ thống hoạt động. Dù những giá trị đó gây tổn thương, đôi khi làm ảnh hưởng đến cả con người và tương lai của những thành viên trong gia đình. Dù rằng gia đình góp những yếu tố quan trọng trong việc chúng ta thiết lập một gia đình mới, mỗi con người chúng ta đều có những lựa chọn của riêng mình.

Murray Bowen đã đề xuất một khái niệm gọi là “cá biệt hóa”, ý chỉ khả năng vẫn ở trong kết nối cảm xúc với những người khác mà vẫn có sự tự chủ trong các chức năng cảm xúc cá nhân (Kerr & Bowen, 1988). Nhiều gia đình đối mặt với sự cá biệt hóa này ở trẻ vị thành niên, quá trình này vừa tạo nên một cơn khủng hoảng, mặt khác chính là bước chuyển để đứa trẻ xây dựng những cách thức mới khác với cách thức cũ của gia đình trong khi vẫn giữ mối liên hệ lành mạnh với gia đình. Đó là những lúc sự tái thiết lập khuôn mẫu mang lại đau khổ không còn diễn ra một cách hoàn toàn và cũng không lặp lại trong gia đình mới.

Bố mẹ An chính là ví dụ cho việc kế thừa và lặp lại khuôn mẫu gia đình. Cha bà Hồng là một người nghiện rượu. Giờ đây bà Hồng cũng lại kết hôn với một người nghiện rượu. Không phải bà Hồng không cảm thấy đau khổ khi bị bạo hành, nhưng bà có “lý do hợp lý” để lấy và tiếp tục ở lại với ông Lâm dẫu cho bị bạo hành mỗi ngày. Đó là bởi bà cảm thấy ở ông Lâm một cái gì đó quen thuộc như là của cha mình ngày xưa, và việc tiếp tục ở bên cạnh ông Lâm thì an toàn và ổn định.

An dù chưa ra đời đã mang trong mình những sự kỳ vọng từ gia đình. Cả bố và mẹ đều xem An như chiếc đũa thần giúp cho cuộc sống họ tốt đẹp hơn. Ông Lâm sẽ không phải mắc kẹt bởi những áp lực từ việc nối dõi, bà Hồng nhờ đó được giải thoát khỏi bạo hành mà không phải bước ra khỏi mối quan hệ này, chí ít họ cho là như vậy. Đến khi họ thất vọng, An phải tự tìm ra cách của mình để “giúp đỡ” cha mẹ, An tạo một vỏ bọc, một mặt nạ mà ở đó có những điều cha mẹ mong muốn, từ đó dần tránh xa Đứa Trẻ Bên Trong mình.

Hy vọng thông qua hành trình này, mọi người sẽ thấy được cách An đã bỏ lại chính mình như thế nào. Sắp tới đây, quá trình hình thành chiếc mặt nạ cũng như tìm lại Đứa Trẻ Bên Trong mình của An sẽ được thể hiện rõ hơn. Tớ hy vọng thông qua đó, mọi người có thể nhận ra bản thân mình đã dần dần từ bỏ con người thật của mình như thế nào. Để từ sự nhận biết đó, mọi người có thể từ từ chấp nhận và kết nối lại với chính mình.

Tài liệu tham khảo:
Apa dictionary of psychology. Trích ngày 28.03.2021, từ https://dictionary.apa.org/family-pattern
Bretherton, I. (1990). Communication patterns, internal working models, and the intergenerational transmission of attachment relationships. Infant Mental Health Journal, 11(3), 237-252. doi:10.1002/1097-0355(199023)11:33.0.co;2-x
Feist, G. J., Roberts, T., & Feist, J. (2013). Theories of personality. New York, NY: McGraw Hill Education.
Herbert, T. B., Silver, R. C., & Ellard, J. H. (1991). Coping with an ABUSIVE relationship: I. how and Why do Women Stay? Journal of Marriage and the Family, 53(2), 311. doi:10.2307/352901
Hynie, M., Lalonde, R. N., & Lee, N. S. (2006). Parent-child value transmission among Chinese immigrants to North America: The case of traditional mate preferences. Cultural Diversity and Ethnic Minority Psychology, 12(2), 230-244. doi:10.1037/1099-9809.12.2.230
The Family System Institute. (2014). Definitions from BOWEN THEORY. Trích ngày 28.03.2021, từ https://www.thefsi.com.au/definitions-bowen-theory/
Juni, S. (1992). Familial dyadic patterns in defenses and object relations. Contemporary Family Therapy, 14(3), 259-268. doi:10.1007/bf00901508
Kwong, M. J., Bartholomew, K., Henderson, A. J., & Trinke, S. J. (2003). The intergenerational transmission of relationship violence. Journal of Family Psychology, 17(3), 288-301. doi:10.1037/0893-3200.17.3.288
Pollak, R. A. (2004). An intergenerational model of domestic violence. Journal of Population Economics, 17(2), 311-329. doi:10.1007/s00148-003-0177-7
Wiszewska, A., Pawlowski, B., & Boothroyd, L.(2007). Father–daughter relationship as a moderator of sexual imprinting: A facialmetric study. Evolution and Human Behavior, 28(4), 248-252. doi:10.1016/j.evolhumbehav.2007.02.006

1 Shares:
Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You May Also Like